Năm cam và những đồng phạm

3.5/5 - (2 bình chọn)

Năm cam và những đồng phạm. Vụ án Năm Cam và đồng phạm hay Chuyên án Z5.01 là vụ án hình sự có tổ chức đặc biệt, cụ thể, đây là vụ án lớn, phức tạp liên quan đến nhiều đối tượng, địa phương.

Mục lục

Chuyên án Z5.01

Quá trình hình thành và phát triển một tổ chức tội phạm theo kiểu “xã hội đen” do Trương Văn Cam cầm đầu đã được hé lộ và phơi bày ra ánh sáng, đã thu hút sự chú ý của Việt Nam và thế giới từ nhiều góc độ khác nhau, sự quan tâm ở đây bao trùm cả về quan điểm kinh tế và chính trị. Trương Văn Cam là đối tượng hình sự đặc biệt nguy hiểm hoạt động tội phạm có tổ chức theo kiểu “xã hội đen”, liên tục gây ra nhiều vụ án mạng trên địa bàn THÀNH PHỐ Hồ Chí Minh và nhiều tỉnh thành trong cả nước. một thời gian dài với nhiều hành vi man rợ, tàn bạo; thủ đoạn trắng trợn, thâm độc gây bức xúc trong dư luận xã hội.

Quá trình điều tra

Năm 1995, Bộ Công an Việt Nam đánh giá vụ án Năm Cam và đồng bọn là một vụ án hình sự đặc biệt nghiêm trọng. Năm Cam và đồng bọn đã có những hành vi đặc biệt nguy hiểm đối với an ninh quốc gia và dân cư trong đời sống xã hội. Bộ Công an đã bắt giữ và tập trung phục hồi tội phạm nguy hiểm Năm Cam để củng cố hồ sơ khởi tố Năm Cam. Bằng cách hối lộ bằng tiền, quan hệ với các quan chức của cảnh sát, văn phòng công tố viên và Văn phòng Chính phủ, trong số các thủ đoạn khác, Năm Cam đã được thả trước thời hạn.

Sau khi ra tù, Năm Cam đã hoạt động tích cực và trắng trợn hơn nhiều so với trước năm 1995. Cuối năm 1999, Bộ Công an đã thành lập Ban chuyên án để điều tra, giải quyết. Nhưng trên thực tế, ban chuyên án này hoạt động không hiệu quả, không thể ngăn chặn hoạt động phạm tội của Năm Cam và đồng bọn. Hơn nữa, hoạt động phạm tội của Năm Cam và đồng bọn ngày càng tàn bạo, coi thường pháp luật.

Tháng 5/2001, để điều tra sự hình thành và hoạt động của tội phạm có tổ chức theo kiểu “xã hội đen” của Năm Cam và đồng phạm, Bộ Công an Việt Nam đã xác lập chuyên án mới mang tên Chuyên án. “Năm Cam và đồng bọn” mang số mã Z5.01. Chủ nhiệm chuyên án là Thiếu tướng Nguyễn Viết Thanh, Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Cảnh sát nhân dân.

Sau khi hoàn thành đề án, ông Thanh được thăng quân hàm Trung tướng, chuyển sang giữ chức vụ Phó Chánh Văn phòng Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng cho đến khi nghỉ hưu từ ngày 1/1/2009. Ngày 1 tháng 12. Năm 2001, cơ quan cảnh sát điều tra đã khởi tố vụ án Năm Cam và đồng phạm. Tháng 10/2002, cơ quan cảnh sát điều tra kết thúc điều tra, chuyển hồ sơ sang Viện Kiểm sát nhân dân để xét xử. Đây là vụ án kỷ lục về số lượng bị cáo, tội phạm và tính chất nguy hiểm

Quá trình xét xử

Phiên tòa sơ thẩm

Ngày 25/2/2003, tại Thành phố Hồ Chí Minh, phiên tòa xét xử vụ án Năm Cam và đồng phạm được mở, 155 bị cáo với 24 tội danh khác nhau đã phải xuất hiện trước bến tàu cùng với 238 người có quyền lợi. , các nghĩa vụ liên quan trong vụ án đã được thực hiện với giấy triệu tập xuất hiện tại phiên tòa; 39 nạn nhân; 3 phiên dịch viên và hàng trăm phóng viên đến từ các cơ quan, lực lượng báo chí trong và ngoài nước: Công an, Điện lực, Y tế, Thanh niên tình nguyện, Công ty Công trình công cộng Quận 1… bảo đảm an ninh, trật tự, hậu cần cho phiên tòa; cùng với hàng ngàn hồ sơ của vụ án này đã được giải thích tại phiên tòa.

Trong đó, 107 bị can đang bị tạm giam; 48 bị cáo được tại ngoại. Trong số 155 bị cáo, có 21 người là cựu quan chức nhà nước và cán bộ thực thi pháp luật (13 sĩ quan cảnh sát, ba cán bộ của Viện kiểm sát và năm cán bộ của các cơ quan hành chính); 17 đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam (bị khai trừ ra khỏi Đảng: 10, bị đình chỉ sinh hoạt Đảng: 6). Để đảm bảo đủ điều kiện cho phiên tòa, vì đây là vụ án lớn với quá nhiều bị cáo, khoảng tám trăm triệu đồng việt nam đã được chi cho mục đích mở rộng và nâng cấp thiết bị. đến phòng xử án.

Chủ tọa phiên tòa là Thẩm phán Bùi Hoàng Danh, Phó Chánh án Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh; Tham dự phiên tòa còn có 80 luật sư bảo vệ quyền lợi cho các bị cáo và hai bị hại là Phan Lê Sơn và Hồ Phước Hùng. Tòa án đã quyết định triệu tập một số người khác có liên quan đến vụ án (ngoài 238 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án đã được chấp hành quyết định triệu tập), ông Lê Thanh Đạo – nguyên Kiểm sát trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao; Than Thanh Huyền và Võ Văn Mang, nguyên Phó Giám đốc Công an Thành phố Hồ Chí Minh; Nguyễn Văn Bồng, nguyên Phó Viện trưởng Viện Kiểm sát Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh và một số nhà báo khác. Phiên khai mạc được tường thuật trực tiếp bởi các hãng phim Truyền hình và Phát thanh Trung ương và địa phương.

Thời gian xét xử vụ án tại phiên sơ thẩm

Thời gian xét xử vụ án là từ ngày 25 tháng 2 năm 2003 đến ngày 5 tháng 6 năm 2003, phiên tòa kéo dài trong 57 ngày, không bao gồm thứ Bảy, Chủ nhật và ngày lễ, từ 8:00 sáng đến 5:00 chiều hàng ngày (dự kiến). Ban đầu được lên kế hoạch trong 55 ngày và kết thúc vào ngày 30 tháng 5 năm 2003).

1. Vụ án giết hại Dung Hà

Những người liên quan: 7 bị cáo, 14 luật sư, 4 người đại diện cho bị hại, 17 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

Nhận được điện thoại của Trường “xoăn” về việc đã “khử” Dũng “Hà”, nghĩ đến việc giết Dung “Hà”, một người từng được nhiều người ưu ái, lúc đó Hải “Bánh” run rẩy và không thể nhấc chân rời khỏi vũ trường Spaceship. Sau này, Hải “Bánh” tâm sự với chúng tôi: “Tôi chưa bao giờ cảm thấy sợ hãi như vậy trong đời”. Sau một thời gian dài bình tĩnh, Hải “Bánh” gọi điện và yêu cầu Đằng “Tây” đi lấy xe và súng cho anh ta.

Sau một bữa tiệc sinh nhật khủng khiếp vào đêm 29 tháng 9 năm 2000 tại vũ trường Space Boat, Năm Cam tức giận đến mức không thể ăn ngon và không thể ngủ được. Công việc kinh doanh của “ông chủ” rất ngon khi một con quỷ nhỏ phá hủy nó. Ông nghĩ đến việc “cần phải thoát khỏi người mẹ già của đất Cảng” và cơ hội sử dụng Hải “Bánh” cho những việc lớn đã đến.

Năm Cam giả vờ gọi Hải “Bánh” nhiều lần, phàn nàn về Dũng “Hà” với giọng điệu gay gắt. Khi biết Hải “Bánh” hiểu ý mình, Năm Cam liên tục gọi điện cho Hải “Bánh” và chửi thề trong điện thoại: “D.M. Tôi không thể chịu đựng được nữa, anh biết đấy… Tôi không muốn. nhìn thấy khuôn mặt của Dung “Hà” một lần nữa… anh muốn nó “biến mất” khỏi vùng đất này – Năm Cam kiềm chế giọng nói của mình.

Sau đó, Năm Cam trực tiếp gặp Hải “Bánh” và ngầm chỉ đạo Hải “Bánh” giết Dũng “Hà”: “Từ nay trở đi, em phải mang súng đi khắp nơi”. Hải “Bánh” hiểu, Năm Cam nói có nghĩa là đã chỉ đạo Hải “Bánh” lấy mạng Dung “Hà”.

Tại thời điểm này, Hải “Bánh” có rất nhiều đàn em bị Cơ quan điều tra Việt Nam truy nã đã trốn sang các nước Đông Âu như Đức, Nga… Họ vẫn kiếm sống bằng cách “bảo kê” các doanh nhân mới. Người Việt Nam làm ăn ở nước ngoài và luôn có mối liên hệ với Hải “Bánh”. Nhận được “lệnh” của ông trùm, Hải “Bánh” biết rằng nếu đàn em trong nước hành động, công an sớm muộn gì cũng sẽ phát hiện ra.

Vì vậy, hắn đã phái hai đàn em từ Nga về Việt Nam để giết Dung “Hà”. Kế hoạch này được Hải “Bánh” giữ bí mật cho đến khi bản án được hoàn thành và gửi đến Trại cải tạo Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai, khi Hải “Bánh” tiết lộ với chúng tôi trong tâm trạng háo hức.

Trong khi hai đàn em Hải “Bánh” bay từ Nga về Việt Nam để tước đoạt mạng sống của Dung “Hà”, Năm Cam lại sốt ruột và không kiềm chế được bản thân, nên đã gặp Hải “Bánh” phàn nàn về Dung “Hà”: “Chú đã nhận công việc của Anh rồi, nhưng tại sao Chú không làm điều đó… D.M. nếu không thì phá bóng, nếu nó liên quan đến pháp luật, hãy để tôi lo… Bạn có thể làm bất cứ điều gì bạn muốn miễn là a không nhìn thấy nó. 

Hải “Bánh” báo cáo rằng anh ta đã gửi hai đàn em từ Nga và sẽ hành động trong vòng một hoặc hai ngày, Năm Cam biết rằng Hải “Bánh” sẽ sớm đối phó với Dung “Hà”, vì vậy anh ta đã khéo léo hẹn vào ngày hôm sau. Ăn trưa với Hải “Bánh”.

Không dại gì khi đi ăn trưa với kẻ giết người để “lạy ông tôi trong bụi này”, sáng hôm sau, Năm Cam lại gọi điện cho Hải “Bánh” nói rằng anh phải đi Nha Trang để có việc gấp để tạo ra bằng chứng ngoại phạm. và đánh lừa sự điều tra của các cơ quan thực thi pháp luật. Sau đó, Nam Cẩm tiếp tục gọi nhiều cuộc điện thoại cho một số bác sĩ tại Bệnh viện Chợ Rẫy để yêu cầu nhập viện và anh đã làm thủ tục nhập viện thực tế.

Đồng thời, luôn bên cạnh Hải “Bánh” là hai đàn em máu lạnh là Hưng “phi Nhon” (Nguyễn Việt Hùng) và Trường “xoăn” luôn trung thành với Hải “Bánh”, cả hai sẵn sàng gây án nếu Hải “Bánh” bật tín hiệu. Việc Năm Cam mắng Hải “Bánh” khiến Hải “Bánh” tức giận và một lần không kiềm chế được, Hải “Bánh” đã thú nhận với hai đàn em là Hưng “phi nhon” và Trường “xoăn” việc Năm Cam chỉ đạo lấy số Dung “Hà”.

Đêm 1/10/2000, Minh “sứt” điện thoại cho Dung “Hà” hẹn gặp Dung “Hà” để bàn bạc về việc cần thiết. Sau khi gội đầu xong, Dung “Hà” vẫn không thấy Minh “sứt” đến, do thiếu kiên nhẫn, Dũng “Hà” mất cảnh giác một mình trước cửa căn nhà số 17 đường Bùi Thị Xuân, phường Bến Thành, quận 1, TP Hồ Chí Minh trong lúc sấy tóc, vừa đợi Minh “sứt”.

Gần nửa đêm, Minh “sứt” đưa người vợ thứ hai tên là Nguyễn Thị Nghiêm đến gặp Dung “Hà”. Ba người họ ngồi trên đường và nói chuyện. Trời làm xui xẻo thế nào, Hưng “phi nhon” và Trường “xoăn” đi chơi, băng qua đường Bùi Thị Xuân, thấy Dung “Hà” xuất hiện quá ngon lành, cả hai đều nghĩ đến cơ hội ngàn năm có một, phải lập công với đàn anh. Cả hai vội vã quay trở lại tâu với Hải “Bánh”. Hải “Bánh” không suy nghĩ đã lấy điện thoại di động và khẩu súng lục của Lưu Tấn Nhơn – Đằng “Tây” gửi và đưa chiếc xe Spacy của Anh Thư cho hai “tiểu yêu” chạy đến lấy số Dung “Hà”.

Sau này khi đang thụ án, Hải “Bánh” có kể lại với chúng tôi rằng:

Đến 0 giờ, ngày 2/10/2000, Trường và Hưng rời vũ trường Phi Thuyền trên chiếc xe Spacy của Hải “Banh” lái xe đến đường Bùi Thị Xuân. Lúc này, Hải “Bánh” bồn chồn như đang đứng trên đống lửa, chưa bao giờ Hải “bánh” lại có tâm trạng lo lắng như vậy.

Hai “tiểu yêu” lái xe đến chỗ Dung “Hà” và phát hiện ra Minh “sứt” đang bỏ đi từ chỗ Dung “Hà” ngồi nghe điện thoại. Lúc này, chỉ có Dung “Hà” và bà Nghiệm đang ngồi tâm sự. Không bỏ lỡ cơ hội, Hưng “phi nhon” lái xe thẳng đến chỗ Dung “Hà” để dừng lại. Trường “xoăn” lạnh lùng rút khẩu súng lục trong bụng và ấn thẳng vào đầu Dũng “Hà” và bóp cò. Sau tiếng nổ lớn trong đêm vắng vẻ, Dũng “Hà” ngã xuống đường. Hai “tiêu yêu” tăng ga bỏ chạy đến đường Cành Mang Thắng Tam rồi biến mất.

Khoảng 30 phút sau, chuông điện thoại của Anh Thư vang lên, thấy số “Bánh” của Hải xuất hiện trên màn hình, Hải “Bánh” biết Trường và Hùng đã gọi điện cho mình nên nhấc điện thoại nghe: “Em đã bắn Dũng “Hà”, Hưng đã vứt súng, tôi đang đứng ở đầu đường Trần Quốc Thảo – Lê Văn Sỹ,  anh đi lấy xe và điện thoại…”, Trường “xoăn” lạnh lùng thông báo.

Nghĩ đến việc giết Dũng “Hà”, một người từng có nhiều ưu ái với Hải “Bánh”, lúc đó Hải “Bánh” run rẩy và không thể nhấc chân rời khỏi vũ trường Phi Thuyền. Sau này, Hải “Banh” tâm sự với chúng tôi: “Tôi chưa bao giờ cảm thấy sợ hãi như vậy trong đời”.

Vài phút sau, Hải tên được Hải “Banh” điều từ Nga đến điện thoại gọi cho Hải “Bánh” giận dữ: “Anh giao nhiệm vụ cho chúng em, nhưng thằng nào đã thịt nó rồi”.

Hải giả tảng: “Đứa nào thịt đứa nào?”.

– Dung “Hà” bị ai đó bắn chết…! Hai thằng đàn em tức giận.
– Thế thì chúng mày ra khỏi Việt Nam ngay lập tức – Hải “Banh” chỉ đạo.

Sau một thời gian dài bình tĩnh, Hải “Bánh” gọi điện yêu cầu Đằng “Tây” đi lấy xe và súng cho mình, Đằng “Tây” đang ở quán Ca Dao nhưng giả vờ bị ốm và không đi. Hải “Bánh” khoe bắn Dũng “Hà”. Lúc đó, Đằng “tây” vừa chạy đến lấy xe và điện thoại mang về quán Bar Ca Dao ở số 38 Lý Tự Trọng. Sau đó, Đằng “tây” nhờ Long “tây” chở đến số 21 Thủ Khoa Huân và giao lại cho Hải “Bánh”. Để đánh lạc hướng Cơ quan điều tra cho rằng mình là bằng chứng ngoại phạm, Hải “Banh” đã gọi nhiều người quen đến cuối đường Pasteur để ăn phở. Rồi mọi người chia tay, Hải “Bánh” trở về số 21 Thủ Khoa Huân, Anh Thư trở về phường 15, quận 11, TP. Hồ Chí Minh.

Sáng hôm sau, Hải “Bánh” điện thoại cho Năm Cam báo tin:

– Đã lấy số con Dung “Hà” rồi, em có nên vào bệnh viện thăm nó không?
– Em không nên xuất hiện ở đó, Công an đông lắm –  Năm Cam chỉ thị. Mấy ngày sau, Năm Cam điện thoại cho Hải “Bánh” dặn dò:
– Chú hãy cẩn thận. Công an nó đang theo dõi dữ lắm!  Em kêu chúng nó trốn ra Hà Nội đi, ở trong này nguy hiểm lắm.

Ngày 5/10/2000, Hùng và Trường đến số 21 Thủ Khoa Huân gặp Hải “Bánh”, sau đó Hùng chạy đến làm việc tại CÂU LẠC BỘ BÓNG ĐÁ QUỐC TẾ SỐ 21 Trần Hưng Đạo, Phường 1, TP Vũng Tàu, thấy Công An truy quét quá nóng, Hưng đáp chuyến bay lúc 14h30 ngày 11/12/2001 ra Hà Nội lẩn trốn. Và Trương cũng bay đến Hà Nội lúc 7 giờ sáng ngày 11/12/2001, một ngày trước khi Nam Cam bị bắt.

Sau khi bị bắn vào đầu, Dũng “Hà” được đưa đến Bệnh viện Sài Gòn cấp cứu, nhưng không có cơ hội vì vị trí bắn của đối phương quá nguy hiểm. Sau đó, nguồn thông tin mà Cơ quan điều tra thu được chỉ là lời khai của bà Nguyễn Thị Bích Thanh, Đoàn Thị Tú Anh và Nguyễn Thị Nghiệp đang ngồi uống nước với Dung “Hà” đơn giản: “Lúc đó có một thanh niên Khoảng 26 tuổi, dáng người gầy gò, tóc ngắn, mặc quần áo màu xanh đậm, đi chậm rãi từ đường Cành Mang Thắng Tam đến Dung “Hà” từ phía sau. Sau tiếng nổ, Dũng “Hà” ngã xuống đường, tên này chạy đến đường Cành Mang Thắng Tám và nhảy lên một chiếc xe Spacy màu trắng do một người đàn ông điều khiển và bỏ chạy…”.

Việc khám nghiệm hiện trường và khám nghiệm tử thi của Công an TPHCM cũng chỉ đưa ra kết luận: Vũ Hoàng Dung bị bắn chết bằng một viên đạn súng ngắn xuyên qua bán cầu não, vỡ hộp sọ, đường kính của viên đạn. Súng Rulo 9mm.

Tình hình an ninh trật tự tại THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH thời điểm này rất phức tạp. Chính băng nhóm do Năm Cam cầm đầu đã gây ra những vụ giết người dã man như vụ tạt axit Lâm “chín ngón” (Lê Ngọc Lâm), sát hại ông Phan Lê Sơn trên đường Hải Triều, quận 1, vụ sát hại ông Phạm Ngọc Hiền trước Vũ trường Metropolis.

Vụ sát hại Dung “Hà” càng đẩy tình hình an ninh trật tự ở một thành phố lớn lên mức báo động đỏ. Trước tình hình trên, Bộ Công an đã ban hành Chỉ thị số 05 về đấu tranh phòng chống tội phạm có tổ chức và tội phạm hoạt động theo kiểu “xã hội đen”. Vụ án giết người của Dung “Hà” được xác lập và Thiếu tướng Nguyễn Việt Thành – Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Cảnh sát là Trưởng Ban chỉ đạo chuyên án.

Công an THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH đã tung ra một lực lượng lớn với sự tập trung cao nhất để nắm bắt tất cả các tin tức liên quan đến cái chết của Dung “Hà”. Tất cả các đối tượng liên quan đến Dung “Hà” đều được phân tích kỹ lưỡng, mọi nguồn gốc mâu thuẫn đều được sàng lọc, nghiên cứu. Tất cả các thông tin từ thế giới ngầm kháo cho nhau cũng được ghi lại. Các biện pháp nghiệp vụ được triển khai…

Sau một thời gian ngắn điều tra, Công an THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH đã có bằng chứng chứng minh cái chết của Dung “Hà” là do các ông trùm băng đảng thanh toán lẫn nhau, người đứng sau không ai khác chính là Năm Cam. Nhưng để bắt được Năm Cam không phải là điều dễ dàng. Trước đó, ngày 20/5/1995, Năm Cam từng bị bắt, nhưng sau 11 tháng 15 ngày tù, Năm Cam được thả với lý do “không đủ chứng cứ buộc tội”. Lần này không thể để tình huống tương tự xảy ra.

Sau một thời gian điều tra, nhận thấy chuyên án không có hướng phát triển tốt, Ban chuyên án đã lật lại hai vụ án quấy rối của Dung “Hà” bằng phân người, mắm tôm, chim và chuột tại vũ trường Phi Thuyền. Tái hiện vụ án Nguyễn Tuấn Hải và Hải “hấp”, Hải “lớ”, Trung “Nga” tổ chức dùng dao, súng đập phá sòng bạc của Cường ở Biên Hòa, vụ Hải “Bánh” rút súng đe dọa các băng nhóm xã hội đen khét tiếng. Châu “râu” tại quán Bar Hoàng Hôn, đường Lê Lợi, quận 1, TP Hồ Chí Minh và một số vụ gây rối khác để xác định mối quan hệ Năm Cam – Hải “Bánh” – Dung “Hà” – và chủ vũ trường Phi Thuyền.

Sau khi phân tích kỹ lưỡng và khoa học, Thiếu tướng Nguyễn Việt Thành và các cộng sự xác định: Nguyễn Tuấn Hải (Hải “Bánh”) là “chìa khóa” của những vụ án này. Nhưng việc bắt được Hải “Bánh” vào thời điểm này sẽ ảnh hưởng đến một băng nhóm tội phạm lớn và chúng sẽ bỏ trốn, gây rất nhiều khó khăn cho công tác điều tra.

Từ những nhận định trên, Ban chuyên án đã chọn lý do Hải “Bánh” đánh người và gây rối tại nhà hàng Tân Hải Vân, đường Nguyễn Trãi, quận 1 để bắt Hải “Bánh” nhằm đánh lạc hướng Năm Cam. Chẳng là trước đó, tại nhà hàng Tân Hải Vân, Hải “Bánh” mang cả một chồng đĩa và đánh vào đầu một khách hàng chỉ vì thanh niên này dám “nhìn đểu” mình.

Ngày 19/5/2001, Công an Thành phố Hồ Chí Minh đã ra lệnh bắt khẩn cấp Hải “Banh”. Sau khi bắt giữ Hải “Bánh”, hàng loạt người khác được gọi đến Công an quận 1, TP Hồ Chí Minh và chỉ để hỏi về vụ gây rối, hoàn toàn không có gì về vụ án Dung “Hà”.

Sau đó, Hải “Bánh” được chuyển đến Trại giam Chí Hòa. Sau 5 tháng 24 ngày tại Trại tạm giam Công an quận 1, Chí Hòa và Trại tạm giam T.16B, Hải “Bánh” chỉ tố giác tội gây rối trật tự tại nhà hàng Tân Hải Vân, còn vụ sát hại Dung “Hà” và các vụ án khác mà hắn không tiết lộ.

Chính việc vào tù ra trại như cơm bữa của Hải “Bánh”, nên hắn có kinh nghiệm đối phó với Cơ quan điều tra. Hơn nữa thời điểm này, có một số ít cán bộ tha hóa vì những đồng tiền dơ bẩn của Năm Cam nên Hải “Bánh” vẫn còn chỗ dựa lưng do đó hắn càng kín miệng. Vì thế  các biện pháp nghiệp vụ tỏ ra hạn chế phát huy hiệu quả.

Nguồn: https://cand.com.vn/Phong-su-tu-lieu/Hai-Banh-xuong-tay-lay-so-Dung-Ha-i165736/

Vụ tạt axít Lê Ngọc Lâm

Lê Ngọc Lâm (Lâm “chín ngón”) sinh năm 1945 tại tỉnh Hà Tây (nay là Hà Nội). Năm 1954, cùng với mẹ và cha dượng ông di cư vào miền Nam và sống ở thành phố Sài Gòn. Năm 1957, Lê Ngọc Lâm bị cha dượng đuổi ra khỏi nhà và kể từ đó sống một cuộc sống lang thang liên kết với những kẻ xấu tham gia vào các hoạt động bất hợp pháp và bị chính phủ Việt Nam Cộng hòa bắt giữ nhiều lần vì tội trộm cắp, cưỡng đoạt, giết người,… Lâm “chín ngón” được bọn tội phạm tôn thờ như một “đại ca”.

Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, vì Lâm là một đối tượng nguy hiểm, ông đã tập trung cải tạo cho đến năm 1988 được thả. Biết Lâm là đối tượng được ra tù nhiều năm, lợi dụng thời điểm Lâm vừa đi cải tạo trở về, Năm Cam đã tạo cơ hội “hợp tác” cho Lâm, giúp Lâm cùng mở một gian hàng bán hàng điện tử. tại chợ Huỳnh Thúc Kháng, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh.

Năm 1990, Năm Cam và Lâm cùng thuê mặt bằng tại 49 Huỳnh Thúc Kháng để kinh doanh hàng điện tử. Khi làm ăn phát đạt, Lê Ngọc Lâm tìm cách nói qua nói lại về những điều không hay của Năm Cam “là một con bạc, một tù nhân, có gì để thờ cúng, dựa dẫm…”, coi thường và làm mất uy tín giữa Năm Cam với giới giang hồ, nên giữa Năm Cam và Lâm đã xảy ra mâu thuẫn.

Năm Cam bàn bạc và chỉ đạo Dung Hà dùng axit gây thương tích để cảnh cáo Lê Ngọc Lâm. Khoảng 20h30.m ngày 14/7/1999, tại cửa quán phở “Lài” ở số 8 bis Cửu Long, cư xá Bắc Hải, phường 15, quận 10, TP Hồ Chí Minh thì lê Ngọc Lâm đang dựng xe. Bước vào quán phở, có hai thanh niên khoảng 30 tuổi đi xe máy dừng bên kia đường.

Nam thanh niên ngồi phía sau mang theo bình axit đến chỗ Lê Ngọc Lâm, hắt lên mặt và đầu Lâm, sau đó vứt lại chiếc cốc nhựa màu đỏ và nhảy lên xe chờ sẵn để tẩu thoát. Lê Ngọc Lâm được vợ và Công an phường 15 cấp cứu tại Bệnh viện Trưng Vương. Sau đó được chuyển đến điều trị tại Khoa Bỏng của Bệnh viện Chợ Rẫy. Vết thương để lại cho Lê Ngọc Lâm là bỏng ở mặt, cổ, cơ thể và mắt; Sẹo mềm rải rác trên mặt, cổ, vai, ngực phải và tay, giảm thị lực nghiêm trọng.

2. Vụ đánh bạc tại quận 5, quận 3, quận 8

Người liên quan: 68 bị cáo, 39 luật sư, luật gia, 37 người có quyền lợi và nghĩa vụ có liên quan.

Vào lúc 18h ngày 9/10/2001, Công an Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh đã bắt quả tang đối tượng này đang có hành vi đánh bạc tại nhà ông Trương Thoại ở số 74/18 Trần Nguyên Hân, phường 13, quận 8; Có 31 đối tượng đang đánh bạc ăn tiền, cùng nhiều tang vật phục vụ cho việc đánh bạc. Trên cơ sở điều tra, xác định hệ thống sòng bạc do Trương Văn Cam tổ chức có quy mô lớn và có các cơ sở đánh bạc gian lận như camera, máy rung hoạt động trên địa bàn các quận 5, 3, 8. và nhiều địa điểm khác tại Thành phố Hồ Chí Minh.

Hành vi tổ chức và đánh bạc do các đối tượng khác

Hành vi tổ chức trường đá gà để thu tiền xâu do Đoàn Minh Chánh và Nguyễn Anh Minh thực hiện. Từ tháng 3/1999 đến tháng 3/2001, Đoàn Minh Chánh cùng với Nguyễn Anh Minh (cu nhứt) thuê đất trống của nhiều hộ dân ở quận 7, quận 8, huyện Nhà Bè, huyện Bình Chánh để tổ chức sự kiện đá gà từ 13 giờ đến 18 giờ các ngày lễ, tết, thứ bảy và chủ nhật; từ 15 đến 50 con bạc tham gia.

  • Phương thức thu tiền xâu: Các con bạc đặt cược với nhau từ 1 đến 2 triệu đồng/1 trận, mỗi bên phải trả 200.000 đồng tiền xâu; 5-7 triệu đồng/1 trận, mỗi bên phải trả 300.000 đồng theo chuỗi; 7 – 10 triệu đồng/1 trận, mỗi bên phải trả 400.000 hoặc 500.000 đồng (tùy khách). Các con bạc khác không có chọi gà (đá ngoài với nhau), Chanh và Minh thu tiền từ 50.000 đồng đến 70.000 đồng/ván mỗi ván.

Hành vi tổ chức đánh bạc và đánh bạc của Trương Hiền Bảo.

  • Hành vi tổ chức sòng bạc của Đoàn Minh Chánh và Nguyễn Văn Sy (Bẩy Sy). Đầu tháng 9/2001, Bẩy Sy và Đoàn Minh Chánh thuê một căn nhà không có số hiệu Võ Tấn Phước (Lành) trong con hẻm cạnh bể bơi Hòa Bình thuộc phường 4, quận 8, THÀNH PHỐ Hồ Chí Minh mở sòng bạc để thu tiền xâu. Sòng bạc này hoạt động từ giữa tháng 9 đến cuối tháng 12 năm 2001 khi nó đóng cửa. Mỗi ngày có khoảng 12 đến 16 đối tượng, trong đó có Chánh và Sy tham gia chơi xập xám hoặc xí ngầu.
  • Hành vi tổ chức đánh bạc và đánh bạc của Lê Văn Đại. Từ tháng 6 đến tháng 10/2001, Trương Hiền Bảo giao cho Lê Văn Đại đi mua 4 bộ bài poker mỗi ngày cho các con bạc chơi; Đại luôn có mặt để theo dõi và quản lý việc thanh toán tiền của các con bạc. Lê Văn Đại còn trực tiếp tham gia cá độ bóng đá dưới hình thức góp tiền cùng người khác để cá độ bóng đá (gọi là chơi ké).

Hành vi đánh bạc của Nguyễn Văn Thành (Mười “lù”). Từ tháng 6 đến tháng 12/2001, Thành nhiều lần đến địa chỉ 196 Trần Bình Trọng, phường 4, quận 5, TP Hồ Chí Minh để cá độ bóng đá. Hàng ngày từ khoảng 2 giờ chiều đến 3 giờ chiều, Thành thường đến trả tiền cá cược của ngày hôm trước, nghe thông tin về các trận bóng đá sắp tới và tìm các con bạc để chơi với mình.

  • Trong số tiền mà Thành đánh bạc, có 5 đối tượng: Nam Cam, Thảo ma, Thọ đại úy, Lâm Đen, Banh ú đóng góp 34%, 65% còn lại thuộc về Thành. Ngoài ra, từ tháng 6/1998 đến tháng 12/2001, Thành còn đến 6 quán cà phê khác nhau trên địa bàn thành phố để đánh bạc với nhiều đối tượng khác. Ngoài các hành vi cá độ bóng đá ăn tiền, Thành còn chơi bài tiến lên hoặc chơi cá ngựa ăn tiền với nhiều đối tượng cũng xem bóng đá.
  • Hành vi đánh bạc của Hứa Tấn Bửu (Bò Nghé). Từ tháng 1 đến tháng 12/2001, Hứa Tấn Bửu thường đến quán cà phê ở 196 Trần Bình Trọng, quận 5; 177 Nguyễn Thị Minh Khai, Quận 1 và một số quán cà phê vỉa hè khác tại Thành phố Hồ Chí Minh để cá độ bóng đá.
  • Hành vi đánh bạc của Tiêu Quân (Hải Bà Càng). Từ tháng 3 đến tháng 12/2001, Quân thường đến cửa hàng 196 Trần Bình Trọng, quận 5 để nghe thông tin về các trận đấu, tỷ lệ cá cược để buổi tối, Quân xem bóng đá trực tiếp và cá cược với người khác. Ngồi bên cạnh.

Hành vi đánh bạc của Nguyễn Chí Dũng (Dũng Nội). Từ tháng 6 đến tháng 12 năm 2001, Dũng thường một mình đến uống cà phê tại 196 Trần Bình Trọng và nghe mọi người bàn luận bóng đá và tỷ lệ cá cược, rồi bắt độ bóng đá. Ngoài ra, Dũng còn cá độ bóng đá ở nhiều địa bàn khác ở trong và ngoài Thành phố Hồ Chí Minh.

  • Hành vi đánh bạc của Ngô Quang Vinh (Man).
  • Hành vi đánh bạc của Lương Cẩm Huy.
  • Hành vi đánh bạc của Hồ Việt Sử.
  • Hành vi đánh bạc của Châu Phát Lai (Lai Anh), Hứa Văn Em (Bé Em) và Hồ Văn Nghị (Sang “lùn”).
  • Hành vi tổ chức đánh bạc của Phạm Minh Tâm và Huỳnh Phú hải.
  • Hành vi tổ chức đánh bạc và đánh bạc của Lê Thị Kim Anh.

3. Vụ đưa và nhận hối lộ tại quận 8

Người liên quan: 16 bị cáo, 14 luật sư, 36 người có quyền lợi và nghĩa vụ có liên quan.

Hành vi đưa hối lộ

Hành vi đưa hối lộ thời điểm trước khi Năm Cam đi cải tạo năm 1995

Đầu năm 1995, Năm Cam phát hiện mình đang bị cảnh sát điều tra về hành vi phạm tội của mình, vì vậy anh ta rất sợ hãi và cố gắng lo chạy các cơ quan thực thi pháp luật để giảm tội. Năm Cam ra Hà Nội nhờ Nguyễn Văn Thắng (Thang Tài Dầu) dẫn đến nhà Trần Văn Thuyết để lo chạy giúp(vì biết Thuyết biết nhiều cán bộ pháp luật và nhà báo), Thuyết hướng dẫn Năm Cam đến nhà Cao Huy Phước. (Công an hưu trí) tại 111 Hàng Bông, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội. Tại đây Thuyết nhờ ông Phước chuyển đơn kêu oan của Năm Cam đến Bộ trưởng Bộ Nội vụ, Thượng tướng Bùi Thiện Ngộ, mà ông Phước đã đồng ý. Năm Cam đưa cho Trần Văn Thuyết 10.000 USD để lo chạy tôi.

Hành vi đưa hối lộ của Phan Thị Trúc (vợ Năm Cam), Dương Ngọc Hiệp (con rể Năm Cam) và Trần Văn Thuyết khi Năm Cam bị bắt tập trung đi cải tạo

Tháng 6/1995, Trúc và Hiệp ra Hà Nội qua Thắng Tài Dầu và gặp Thuyết tại 91 Nguyễn Thái Học, quận Ba Đình. Tại đây Hiệp đặt câu hỏi để tiếp tục nhờ lý Thuyết “chạy tội” để Năm Cam thoát khỏi sự tập trung giáo dục và cải tạo. Thuyết đồng ý và yêu cầu ông Hiệp đưa tiền, đồng thời yêu cầu bà Phan Thị Trúc viết đơn kiến nghị gửi lãnh đạo, các cơ quan tố tụng và báo chí để lên tiếng gây áp lực.

Thuyết nhờ Nguyễn Tháp Nhất ((Trưởng phòng Kiểm sát giam giữ Viện Kiểm sát Nhân dân Hà Nội) soạn thảo đơn và sắp xếp trình tự gửi cho các cơ quan thực thi pháp luật và công luận, sau đó đưa cho Dương Ngọc Hiệp đánh máy và ký tên Phan Thị Trúc gửi qua đường bưu điện đến những nơi cần thiết. Phan Thị Trúc, Dương Ngọc Hiệp và Trần Văn Thủy đã đưa hối lộ cho cán bộ, nhà báo bằng tiền và đồ vật có giá trị cao (như đồng hồ Rolex…).

4. Vụ đánh bạc của Trương Hiền Bảo

Người liên quan: 11 bị cáo, 8 luật sư, 12 người có quyền lợi và nghĩa vụ có liên quan.

5. Các vụ đánh bạc khác

Người liên quan: 14 bị cáo, 7 luật sư, 15 người có quyền lợi và nghĩa vụ có liên quan.

6. Vụ đưa và nhận hối lộ các năm 1995–2001

Người liên quan: 9 bị cáo, 9 luật sư và 43 người có quyền lợi và nghĩa vụ có liên quan.

Hành vi đưa hối lộ từ các sòng bạc xóc đĩa.

Khoảng tháng 9/1999, sau khi trở về từ trung tâm phục hồi chức năng (tháng 10/1997), Nam Cam và Tô Văn Tốt, Nguyễn Văn Nhã, Nguyễn Khánh Quốc, Phạm Văn Minh, Lê Thị Thu Hà và Thành Chân đã hồi phục sòng bạc quận 8. Theo phân công, để đảm bảo an ninh cho sòng bạc, Nam Cam chủ trương trích 5% từ doanh thu của người thắng trong mỗi trò chơi để hối lộ cảnh sát để che đậy sòng bạc.

Hành vi đưa hối lộ từ các sòng bạc tài xỉu

Cuối tháng 1/2001, Cô Đệ (tức Tư Râu) và Nguyễn Văn Thọ (Thọ “đại úy”) tổ chức sòng bạc dưới hình thức đánh bạc tại nhà Lương Trung, số 62/2B Trần Nguyên Hân, phường 13, quận 8; Đến cuối tháng 10/2001 do bị tố cáo, sòng bạc chuyển sang hoạt động tại hẻm 41 Cần Giuộc, phường 12, quận 8. Việc đưa hối lộ được lấy từ tiền của sòng bạc để hối lộ công an phường và các đội cảnh sát hình sự quận.

Hành vi đưa và nhận hối lộ sau khi Năm Cam bị bắt về tội giết người (năm 2001)

Cuối năm 2001, Năm Cam và đồng bọn bị bắt về tội giết người, tổ chức đánh bạc, chiếm đoạt tài sản… Sau khi Nam Cam bị bắt khoảng 5 ngày, Trương Thị Lan (con gái Năm Cam) đã nhờ Tôn Vĩnh Đắc (Long “đầu đinh”) tìm người để chạy tội cho Năm Cam và Dương Ngọc Hiệp. Tại Hà Nội Long “đầu đinh” kết hợp với Nguyễn Tháp Nhất đưa hối lộ cho Phạm Sỹ Chiến (Phó Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao) và nhiều cán bộ khác.

7. Vụ thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng, lạm dụng chức vụ quyền hạn trong khi thi hành công vụ

Người liên quan: 4 bị cáo, 11 luật sư, 35 người có quyền lợi và nghĩa vụ có liên quan.

Hành vi nhận hối lộ và làm lộ bí mật của Trần Mai Hạnh.

Trần Mai Hạnh, nguyên Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, nguyên Tổng Giám đốc Đài tiếng nói Việt Nam, Phó Chủ tịch Hội Nhà báo Việt Nam là quan chức cấp cao và là bị cáo trong vụ án.
Khi còn công tác tại Thông tấn xã Việt Nam, bị tai nạn và đang điều trị tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức năm 1992, nhân danh quê hương Hải Dương, Trần Văn Thuyết đã đến thăm và sau đó đến nhà Trần Mai Hạnh ở tập thể đài phát thanh VOV, từ đó trở đi, Thuyết có mối quan hệ thân thiết với Trần Mai Hạnh cho đến khi Thuyết bị công an bắt giữ vào ngày 6/4/2002 tại khách sạn Empress số 5 Nguyễn Thái Học, thành phố Đà Lạt tỉnh Lâm Đồng.

Cơ quan điều tra đã có bằng chứng về mối quan hệ thân thiết của Trần Mai Hạnh với Trần Văn Thuyết, Tôn Vĩnh Đắc, Nguyễn Tháp Nhất, Dương Ngọc Hiệp và Phạm Sỹ Chiến.

Thuyết và Hiệp có quan hệ với nhóm người này để chạy tội cho Năm Cam trong những năm 1995 – 1997. Trần Mai Hạnh đã nhận được tổng cộng 6.000 USD và nhiều phần quà có giá trị từ Trần Văn Thuyết và Dương Ngọc Hiệp để chạy tội cho Năm Cam. Ngoài ra, Trần Mai Hạnh còn công bố trước công chúng một số tài liệu đóng dấu “Mật” của Chính phủ Việt Nam. Trần Mai Hạnh tại thời điểm gây án đang giữ chức vụ Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hội Nhà báo Việt Nam, Tổng Biên tập Báo Nhà báo và công luận.

Hành vi nhận hối lộ của Phạm Sỹ Chiến

Khi phạm tội, Phạm Sỹ Chiến đang giữ cương vị Phó Viện trưởng Viện Kiểm sát Nhân dân Tối cao. Tháng 6 năm 1995, được Nguyễn Thập Nhất dẫn đường, Trần Văn Thuyết cùng Dương Ngọc Hiệp, Tôn Vĩnh Đắc đã đến nhà Phạm Sỹ Chiến (phụ trách kiểm sát hình sự) ở số 3, ngõ 25 An Dương, phường Yên Phụ, quận Tây Hồ, Hà Nội để nhờ chạy án; Phạm Sỹ Chiến đã dùng nhiều thủ đoạn nhằm gỡ tội cho Năm Cam và ký kiến nghị gửi Bộ trưởng Bộ Nội vụ yêu cầu hủy bỏ việc tập trung cải tạo của Năm Cam. Phạm Sỹ Chiến đã nhận quà biếu trả công cho việc giúp Năm Cam tương đương 3.000 USD.

Hành vi lợi dụng người khác để trục lợi của Nguyễn Thập Nhất và Tôn Vĩnh Đắc

Tháng 3 năm 1993, Nguyễn Thập Nhất được điều về Viện Kiểm sát Nhân dân Thành phố Hà Nội, được bổ nhiệm giữ chức Phó trưởng phòng và đến tháng 10 năm 1994, được đề bạt chức Trưởng phòng Kiểm sát giam giữ cải tạo.

Tháng 5/1995, sau khi Năm Cam bị tạm giam tại Trại tạm giam Bộ Công an, Dương Ngọc Hiệp (con rể của Năm Cam) theo lời khuyên của bố vợ đã ra Hà Nội gặp Nguyễn Văn Thắng để Thắng có thể dẫn anh ta đến gặp Trần Văn Thuyết nhờ Thuyết tiếp tục giúp đỡ Năm Cam, trước ngày 20/5/1995, Thuyết dẫn Năm Cam đến nhà ông Phước và Thuyết nhận 10.000 USD từ Năm Cam. Trần Văn Thụy gọi điện cho Nguyễn Thập Nhất đến nhà riêng của Thuyết ở 91 Nguyễn Thái Học, Hà Nội – Trần Văn Thụy quen biết Nguyễn Thập Nhất từ năm 1993 – để nhờ Nhất xem đơn của vợ Năm Cam (Phan Thị Trúc).

Tôn Vĩnh Đắc (tức Long “đầu đinh”) có quan hệ từ trước với Nguyễn Thập Nhất, Đắc đã tích cực chạy tội cho Năm Cam bằng các quan hệ của mình, đã nhiều lần nhận tiền của Năm Cam và đồng bọn.
Trong việc này, Nguyễn Thập Nhất đã nhận một phong bì 2.000, USD; trong hai năm 1995 – 1996, Nhất đã nhiều lần nhận tiền của Thuyết để tiếp khách, tổng cộng là 3.000, USD. Ngoài ra, Thuyết còn lắp cho Nhất tại nhà riêng một bộ dàn nghe nhạc trị giá 4.200, USD. Trong những năm Năm Cam đi cải tạo, Nguyễn Thập Nhất đã nhiều lần nhận tiền để chạy tội cho Năm Cam (khoảng hơn 10.000, USD).

Hành vi lợi dụng người khác để trục lợi của Trần Văn Thuyết

Tháng 5 năm 1995, khi biết bị cơ quan công an lập hồ sơ bắt giam, Năm Cam đã ra Hà Nội và được Nguyễn Văn Thắng (Thắng Tài Dậu) dẫn đến nhà riêng Trần Văn Thuyết nhờ quan hệ chạy tội cho mình. Trần Văn Thuyết đã dẫn Năm Cam gặp một số quan chức để chạy tội cho Năm Cam. Riêng Trần Văn Thuyết đã nhận của Năm Cam 67.000, USD., 10, triệu đồng Việt Nam cùng đồng hồ Rolex trị giá 5.000, USD. Trần Văn Thuyết cũng đã nhiều lần nhận tiền (hàng chục ngàn USD) của Năm Cam và đồng bọn để đút lót chạy tội.

Hành vi thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng của Bùi Quốc Huy

Bùi Quốc Huy nguyên Trung tướng, nguyên Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, nguyên Thứ trưởng Bộ Công an; bị điều tra các vi phạm trong thời gian làm Giám đốc Công an Thành phố Hồ Chí Minh. Ngày 27 tháng 9 năm 1997, Năm Cam được tha trước thời hạn sau khi cải tạo được hơn 2 năm; khi tha Năm Cam, Cục V 26, Bộ Công an đã có công điện yêu cầu Công an Thành phố Hồ Chí Minh tiếp tục theo dõi và quản lý giám sát Năm Cam.

Với chức năng, nhiệm vụ là Giám đốc Công an Thành phố Hồ Chí Minh, từ tháng 4 năm 1996 đến tháng 7 năm 2001, Bùi Quốc Huy đã buông lỏng công tác quản lý cán bộ nhân viên dưới quyền, từ đó nhiều cảnh sát công an cấp dưới đã bị tổ chức tội phạm của năm Cam mua chuộc, lôi kéo làm tha hóa, biến chất, thậm chí một số cảnh sát cấp lãnh đạo phòng, quận của Công an thành phố có hành vi tiếp tay hoặc bao che cho hoạt động phạm tội.

Hành vi nhận hối lộ và lợi dụng chức vụ của Dương Minh Ngọc

8.Vụ giết người của Châu Phát Lai Em và Châu Phát Lai Út

Người liên quan: 6 bị cáo, 4 luật sư, 22 bị hại, người làm chứng, người có quyền lợi và nghĩa vụ có liên quan.

Châu Phát Lai Út và đồng phạm đã gây ra 2 vụ án mạng là ông Trần Văn Minh và Tràm Minh Dũng. Tuy nhiên, ông Nguyễn Bá Phong (nguyên Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân quận 1) đã can thiệp để dừng điều tra vụ án. Hiện ông Phong đã bị khởi tố về tội không truy cứu trách nhiệm hình sự của người có tội.

I. Vụ Châu Phát Lai Em giết Đổng Chí Nam

II. Các vụ cố ý gây thương tích của các đối tượng khác

1. Châu Phát Lai Út cố ý gây thương tích (dùng dao chém Trần Văn Minh và Trâm Minh Dũng)

1.1. Hành vi cố ý gây thương tích

a. Châu Phát Út và đồng bọn chém trần Văn Minh ngày 10 tháng 8 năm 1999
Sau khi tổ chức tội phạm của Trương Văn Cẩm và đồng bọn bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ Công an bắt giữ, ngày 31/1/2002 Trần Văn Minh (thường gọi là Minh “Cuội”), sinh năm 1963, trú tại 152 1/1, đường Trần Xuân Soạn, phường Tân Hưng, quận 7, thành phố Hồ Chí Minh đã làm đơn tố cáo Châu Phát Út,  nhờ đồng bọn chém gây thương tích cho Minh vào tối 10/8/1999 tại quán cà phê 3B, bến Chương. Dương tính. Trước đó, Minh không dám tố cáo vì sợ sức mạnh của anh em Châu Phát Lai Em (Lai Em là anh ruột của Châu Phát Út và là cộng sự thân cận của Trương Văn Cẩm) cụ thể vụ án như sau:

Do mâu thuẫn giữa Lan, con trai của Châu Phát Lai Anh (Lai Anh là anh ruột của Châu Phát Út) và Hòa, em trai của Trần Văn Minh, Minh đã kể lại sự việc này với Châu Phát Út, dẫn đến việc Út tức giận với Minh. Khoảng 20h ngày 10/8/1999, Châu Phát Út đến “BARCONKET” (sau đổi thành nhà hàng Hoàng Hon) và gặp Nguyễn Trần Lâm (Lâm là cựu tù nhân với Út ở trại Xuyên Mộc) và Đinh Tuấn Huy. (bạn của Lâm) và Châu Phát Lai Tôi ngồi uống rượu, một lúc sau, Út đứng dậy chửi “mẹ chết tiệt bố” và đến kéo Lâm lên, Lâm kéo Huy theo.

Út đi xe máy phía trước, Lâm đi xe máy L.A chở Huy đi theo phía sau. Đến chợ cá Cầu Lanh Út đậu xe bên lề đường rồi đến nhà anh rể tên Cua (nay Cua đã chết), Cua đưa cho Út một thanh kiếm rồi Út đi ra đưa kiếm cho Huy Cẩm, lần này Lâm và Huy biết mình định đâm ai đó. Út lên xe và lái xe trước mặt Lâm, theo sau là Huy, đi bộ một đoạn ngắn đến số nhà 3B Bến Chương Dương. Thấy Trần Văn Minh đang uống cà phê với một số người, Út chỉ vào Minh và nói: “Giết mẹ của thằng mặc áo đến chết. màu xanh lá cây cho tôi”.

Đúng lúc đó, Huy cầm kiếm chém vào người Minh, Minh giơ tay trái lên đỡ nhưng bị thương ở tay và bỏ chạy, Huy đuổi theo sau đó vài mét để chém nhưng không trúng, Huy chạy lại chỗ Lâm đang chờ sẵn. Xe không khởi động nên Huy phải đẩy khoảng 100m trước khi xe khởi động. Lâm cầm kiếm đưa Huy đi, ngồi sau, chạy đến đầu đường Nguyễn Công Trứ (cửa công ty Sài Gòn SHip), dừng lại và Lâm gọi út nhưng không gặp. Sau khi gọi điện cho Út, Lâm nói huy giấu thanh kiếm trên giường hoa trước cửa Công ty SÀI GÒN SHIP rồi chở Huy về nhà thuê tại số 600 Lê Quân Định để ngủ. Châu Phát Út lúc đó lái xe về nhà thay quần áo và đến hợp tác xã bốc xếp cầu cảng Chương Dương để làm việc. Trần Văn Minh được đưa đến cấp cứu tại Trung tâm Chấn thương chỉnh hình để điều trị.

Khoảng 2 tuần sau, Lâm gặp Út, sau đó Út rủ Lâm và Huy đi nhậu và “chơi với gái”, nhưng Út không đưa tiền cho Lâm và Huy.
Trần Văn Minh được điều trị tại bệnh viện khoảng 20 ngày trước khi về nhà. Châu Phát Lai tôi đến thăm Minh và đe dọa sẽ khiếu nại nếu Minh nộp đơn khiếu nại với cảnh sát. Châu Phát Út cũng đã đến thăm và tặng Minh 2 triệu đồng. Vì sợ quyền lực của gia đình Châu Phát Lai Em nên trước đó Minh không dám tố cáo như đã nói ở trên. Vợ ông Trần Văn Minh có đơn nêu rõ tổng số tiền điều trị cho ông Minh là: 9,2 triệu đồng (BL số: V11). T2 -195).
Gia đình anh Đinh Tuấn Huy đã tự nguyện bồi thường cho gia đình anh Minh 2 triệu đồng, nhưng chị Phương (vợ anh Trần Văn Minh) không chấp nhận (BL số: V11). T3 – 454)
Lời khai nhận tội của các bị cáo Út, Lâm, Huy, lời khai của Minh (bị hại) và lời khai của các nhân chứng phù hợp với nội dung vụ việc trên (BL số: V11. T2 -119 -121; 153 – 160; 168-171; 179-180).
Do đã quá lâu nên đến nay, thanh kiếm vẫn chưa được thu hồi, nhưng với lời khai nhận tội của bị cáo và lời khai của nạn nhân, nhân chứng có đủ căn cứ xác định hung khí mà bị cáo sử dụng để gây án là 1 thanh kiếm dài khoảng 80 cm, rộng 5 cm, đầu nhọn (số BL:  V11. T2 – 172.173).
Kết luận giám định pháp y số 2284/C21 (CIII) ngày 18/6/2002 của Viện Khoa học hình sự Bộ Công an kết luận thương tích của Minh là: cứng khớp ngón trỏ, ngón giữa, ngón đeo nhẫn và ngón út của bàn. tay trái, tỷ lệ thương tích là: 27% (số BL: V11. T2- 133 -139).
b. Châu Phát Út dùng dao chém Trát Minh Dũng đêm 21/11/2000 tại chợ cá Cầu Ông Lãnh

Khoảng 2 giờ 30 phút ngày 21/11/2000 tại chợ cá Cầu Ông Lanh, quận 1, tên là Châu Phát Út và ông Trâm Minh Dũng, sinh năm 1970, trú tại 81/65 Bến Chương Dương, phường Nguyễn Thái Bình, quận 1, TPHCM cũng là công nhân bốc xếp của hợp tác xã số 1 Bến Chương Dương đang làm việc. Út có nói với Trát Minh Dũng: Anh làm việc ở chợ hay ngoài đường?; Ông Dũng trả lời: Bất cứ nơi nào bạn làm việc, bạn cũng sẽ làm như vậy.

Hai người cãi nhau, ông Dũng đẩy Út ngã xuống chậu cá, Út đứng dậy bỏ đi và ông Dũng tiếp tục làm việc. Vài phút sau, ông Dũng nghe thấy tiếng ai đó la hét, lập tức quay lại thì thấy Út vẫy dao chém mình. Dũng giơ tay phải lên đỡ. Út chém ông Dũng 3 nhát liên tục, sau đó ném con dao tại hiện trường, sau đó bỏ đi và bỏ trốn khỏi nơi cư trú, ngày 14/2/2001 đến Công an phường Cầu Ông Lãnh đầu thú. Còn anh Dũng được đưa đi cấp cứu và điều trị tại Trung tâm Chấn thương chỉnh hình thành phố.

Kết luận giám định pháp y số 1632/TT. OO ngày 15 tháng 12 năm 2000 của Tổ chức Pháp y – Pháp y Tâm thần Thành phố Hồ Chí Minh kết luận: tỷ lệ thương tật vĩnh viễn là 31%.
Sau khi Cơ quan điều tra kết thúc điều tra vụ án và đề nghị truy tố Út, Viện Kiểm sát nhân dân quận 1 đã trưng cầu giám định lại. Giám định pháp y số 33/2001/GDYP ngày 25/5/2001 của Tổ chức pháp y Trung ương khu vực phía Nam kết luận: Liệt dây thần kinh ulnar tay phải, ảnh hưởng đến chức năng bàn tay phải một phần, tỷ lệ thương tích là 22% vĩnh viễn.
Xét thấy việc giám định thương tích của dũng có vấn đề, Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ Công an đã trưng cầu giám định lại. Kết luận giám định pháp y số 2283/C21(CIII) ngày 18/6/2002 của Viện Khoa học hình sự thuộc Bộ Công an kết luận: Tỷ lệ thương tích của Trâm Minh Dũng là 31% (BL số: V11. T3 -243 -256).
Mặc dù con dao mà Út sử dụng để gây án vẫn chưa được thu hồi, nhưng lời khai của nạn nhân phù hợp với lời khai của Châu Phát Út rằng anh ta đã sử dụng một con dao dùng để cắt cá dài khoảng 40 cm và rộng 10 inch. cm, đầu vuông, tay cầm gỗ chém vào ông Dũng (số BL: V11. T3 -225.229.234.264.267.269.273.276), mặt khác, vết thương để lại trên cơ thể nạn nhân đủ cơ sở xác định hung khí mà Út sử dụng là một con dao dài khoảng 40 cm. , rộng 10 cm, tay cầm bằng gỗ.
Chi phí điều trị vết thương là 4 triệu đồng, gia đình Châu Phát Út đã bồi thường cho ông Dũng.

Xét nhân thân Châu Phát Út là đối tượng rất côn đồ: vừa mới mãn hạn tù 17 năm về tội giết người, mới được tha vào cuối năm 1998, thì Lai Út liên tiếp gây ra 2 vụ án trên. Điều đó thể hiện Lai Út là kẻ rất coi thường pháp luật, sẵn sàng đâm chém người khác dù là thân quen và với lý do rất đơn giản.

Hành vi của Châu Phát Út đã phạm vào tội cố ý gây thương tích, tội danh được quy định tại khoản 4 điều 104 BLHS nước Cộng hòa XHCN VN.

1.2 Hành vi không truy cứu trách nhiệm hình sự người có tội của Nguyễn Bá Phong

Ngày 18/4/2001 Công an quận 1 TP HCM có kết luận điều tra vụ án nêu trên, chuyển VKSND quận 1 đề nghị truy tố bị can Châu Phát Út về tội cố ý gây thương tích, nhưng Nguyễn Bá Phong (nguyên là Viện trưởng VKSND quận 1) đã từng bước chỉ đạo và đến ngày 23/7/2001 thì đình chỉ điều tra vụ án, bị can cụ thể như sau:

Ngày 15/2/2001, Nguyễn Bá Phong trực tiếp nhận “đơn xin thôi việc” (bản photo) không ghi ngày tháng 2/2001 của Bạt Minh Dũng, “đơn xin bảo lãnh” của Châu Kim Hoa (em gái ruột của Châu Phát Út). ) và văn bản đề nghị của Hợp tác xã bốc xếp tại bến Chương Dương, do Châu Phát Lai Em (anh trai Châu Phát Út) đưa ra. Các đơn này không thể nhập vào sổ thư của Viện Kiểm sát nhân dân quận 1. Ngay sau khi nhận được đơn, Nguyễn Bá Phong đã hướng dẫn về “đơn xin thôi việc”: “Cố ý gây thương tích do lỗi của nạn nhân trước. Bây giờ có kiến nghị bác đơn khiếu nại, nếu thương tích không nghiêm trọng (11%), việc phân loại và xử lý yêu cầu công an hủy bỏ biện pháp phòng ngừa” (BL số: V11. T3 – 418).

Cơ quan điều tra chưa chuyển hồ sơ sang Viện Kiểm sát nhân dân quận 1, nhưng ngày hôm sau, 16/2/2001, Cơ quan CSĐT Công an quận 1 đã chuyển hồ sơ đề nghị phê chuẩn lệnh tạm giam đối với bị can Châu Phát Út. Thương tích của nạn nhân là 31% vĩnh viễn. Kiểm sát viên Đinh Duy Hưng (BL số: V11. T3 – 433), mặc dù chức năng giao vụ án này cho cấp dưới điều tra thuộc trách nhiệm của ông Lê Mạnh Quân (Phó Giám đốc phụ trách vụ án hình sự). 

Sau khi Công an quận 1 chuyển kết luận điều tra và hồ sơ vụ án đến Viện Kiểm sát nhân dân quận 1 như đã nêu trên, ngày 15/5/2001 Phong trực tiếp nhận được “đơn đề nghị xem xét giám định lại vết thương” của bị cáo. Thật không may, đơn của Châu Kim Hoa và công văn của Hợp tác xã bốc xếp số 1 cũng được Châu Phát Lai Em đưa ra và không có trong hồ sơ của sổ văn thư của viện. Ông Nguyễn Bá Phong không chuyển đơn đến ông Lê Mạnh Quân để xem xét, giải quyết hoặc chỉ đạo kiểm sát viên yêu cầu cơ quan điều tra làm rõ để trả lời người bị hại, mà thay vào đó viết bút phê chỉ đạo kiểm sát viên Đinh Duy Hưng ra quyết định. có ý định trưng cầu giám định lại thương tích theo yêu cầu của nạn nhân (BL số: 422). Thực hiện ý kiến của ông Phong, Kiểm sát viên Đinh Duy Hưng đã ra quyết định trưng cầu lại.

Sau khi có kết luận giám định pháp y như đã nêu trên, Nguyễn Bá Phong đã chỉ đạo kiểm sát viên Đinh Duy Hưng viết đơn đề nghị cho Châu Phát Út được tại ngoại. Dưới sự chỉ đạo của Phong, ngày 30/5/2001, Kiểm sát viên Đinh Duy Hưng có phiếu đề nghị: “Cho bị can Châu Phát Út được tại ngoại, cấm đi khỏi nơi cư trú” và trình bày cho ông Lê Mạnh Quân và ông Quân. viết: “Bị cáo phạm tội tại khoản 2 Điều 104 BLHS (có tính chất côn đồ và sử dụng vũ khí nguy hiểm), mặt khác có tiền án về tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, báo cáo Kiểm sát viên quyết định”. Cùng ngày, ông Nguyễn Bá Phong đã có ý kiến chỉ đạo: “… không côn đồ… Bản chất nguy hiểm không lớn. Do đó, có thể khởi tố tại khoản 1. Tuy nhiên, cần tham khảo ý kiến của Ban Kiểm soát xét xử trước khi quyết định xử lý… chấp thuận hủy bỏ biện pháp tạm giam…”. (BL số: V11. T3 -425).

Ông Đinh Duy Hưng, viết dự thảo công văn gửi Viện Kiểm sát điều tra Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh báo cáo vụ việc và xin hướng xử lý, ngày 16/7/2001, ông Quân ký “có” và Nguyễn Bá Phong Có một số chỉnh sửa về bản thảo này (BL số: V11. T3 – 426). Nhưng sau đó Nguyễn Bá Phong quyết định không báo cáo Viện Kiểm sát thành phố nên văn bản này không được công bố và chỉ đạo ông Đinh Duy Hưng ra quyết định đình chỉ điều tra vụ án, bị can để ông Lê Mạnh Quân, ký như đã nêu trên. Theo quy định, bản án đình chỉ điều tra vào cuối tháng phải báo cáo và chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát cấp trên để kiểm sát, nhưng hồ sơ vụ án sau khi tạm đình chỉ không thể chuyển cho Viện kiểm sát thành phố để kiểm sát.

Nguồn: https://vnexpress.net/ket-luan-dieu-tra-chuyen-an-nam-cam-phan-17-vu-chau-phat-lai-ut-co-y-gay-thuong-tich-2056604.html

9. Vụ cưỡng đoạt tài sản

Người liên quan: 7 bị cáo, 7 luật sư, 66 bị hại, người làm chứng và người có quyền lợi và nghĩa vụ có liên quan.

10. Các vụ cho vay lãi nặng

Người liên quan: 10 bị cáo, 14 luật sư, 72 người có quyền lợi và nghĩa vụ có liên quan.

11. Vụ giết Phan Lê Sơn, Hồ Quốc Hưng

Người liên quan: 24 bị cáo, 30 luật sư, 15 người bị hại, người làm chứng và người có quyền lợi và nghĩa vụ có liên quan.

Vụ sát hại cảnh sát Phan Lê Sơn qua lời khai của hung thủ

Bùi Anh Việt (hay còn gọi là Bẩy Việt) vừa gửi đơn đến Ban chuyên án Năm Cam để khai báo tất cả sự thật. Lời khai cho thấy, Đại tá Dương Minh Ngọc và Thượng tá Nguyễn Mạnh Trung (Trưởng phòng Cảnh sát hình sự và Phó phòng Cảnh sát điều tra Công an TP HCM) đã bật đèn xanh cho tội phạm thông cung và tuyên bố Bẩy Việt là hung thủ theo lệnh “ông trùm”.
Trong phần trình bày, Bẩy Việt khai khoảng 21h ngày 26/1/2000, sau khi kết thúc ca làm việc tại nhà hàng Ra Khơi, anh đến nhà hàng 136 Nguyễn Thái Học. Tại đây, Bẩy Việt gặp Nguyễn Hữu Thịnh (con trai của Thọ “Đại úy”) và Tiến, Hùng, Yến, Kiệt, Phi, Lợi, Ngọc… Đang uống rượu. Một lúc sau, Thọ “đại úy” đến nhậu cùng, còn Thịnh trả tiền và đến cửa hàng Cấm Chỉ, số 4 đường Hải Triều.
Sau khi uống hết 2 chai bia, Bẩy Việt nhận được điện thoại của Thịnh Bảo bị đánh tại Cấm Chỉ. Bẩy Việt và Hải Lợi, Phi, Dương, Toàn đi xe máy đi tìm nhưng không thấy. Bẩy Việt gọi điện và biết thịnh đã đến 136 Nguyễn Thái Học và đang ngồi với cha mình. Nghĩ rằng không có chuyện gì to tát xảy ra, Bẩy Việt và Hải Lợi đã đến quán bar Sunset của Nhật Kim Anh. Nhưng trong khi chơi ở đây một thời gian, Bẩy Việt nghe nói rằng có một cuộc chiến tại nhà hàng Cám Chỉ. Vì vậy, anh và Hải Lợi quay trở lại xe, đến đường Hải Triều, và thấy Thịnh, Thọ và một vài người khác chạy từ Cấm Chỉ ra…

Sáng hôm sau, khi đang uống cà phê trên đường Trương Định, Bẩy Việt biết được cảnh sát hình sự Phan Lê Sơn và bạn là Phạm Phước Hùng bị đâm chết tại quán cà phê Cấm Chỉ. Người ta nói rằng trong danh sách những kẻ giết người có tên của mình, Bẩy Việt sợ hãi gọi và yêu cầu Hiệp (phò mã) và được khuyên nên chạy trốn. Y lập tức trở về quê vợ ở huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang.

Vài ngày sau, Hiệp (phò mã) nhắn tin cho Bẩy Việt đến nhà Nhật Kim Anh để bàn chuyện làm ăn. Tại đây, Hiệp và Kim Anh bàn bạc đưa anh sang Campuchia, nhưng Bẩy Việt do dự. Ông Hiệp hứa sẽ chi tiền để Bẩy Việt có thể sống hạnh phúc ở nước ngoài, trong khi vợ con ông ở Việt Nam sẽ được chăm sóc. Khoảng 10h sáng mùng 8 Tết, Hiệp “phò mã” và Thọ “đại úy” đến nhà Nhật Kim Anh để tiếp tục vận động Bẩy Việt trốn thoát và sắp xếp kế hoạch đổ lỗi.
Hiệp và Thọ hứa, nếu không may Bẩy Việt bị bắt, anh ta sẽ chạy án và chấp hành án từ 3-5 năm tù. Sau khi thỏa thuận xong, 21h ngày hôm sau, Hiệp hẹn Bẩy Việt đến đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa nhận 1.000 USD và bắt xe lên cửa khẩu Mộc Hóa sang Campuchia. Ở một vùng đất xa lạ, Bẩy Việt bị quản thúc tại một khách sạn.

Hơn một tháng sau, bất ngờ Hiệp (phò mã) đưa Bẩy Việt về Việt Nam, sau đó sắp xếp nội dung để Bẩy Việt khai báo lời thú tội của mình. Lúc này, Năm Cam và Thảo “ma” đến cho Bẩy Việt với 3 triệu đồng, bảo không được khai báo trốn sang Campuchia. Ngày hôm sau, theo lệnh của Năm Cam, Hiệp (phò mã) đưa Bẩy Việt đến Phòng Cảnh sát hình sự Công an THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH.

Tại đây, những người đi cùng Bẩy Việt trong ngày xảy ra vụ án đồng loạt tuyên bố rằng Bẩy Việt đã đưa con dao cho đồng bọn đâm chết Phan Lê Sơn và Phạm Phước Hưng. Bị đồng bọn đổ lỗi, Bẩy Việt đã khai tất cả sự thật, trong đó có việc sang Campuchia, khiến điều tra viên phải gọi Kim Anh đến đối chất. Ngay tại đồn cảnh sát, Nhật Kim Anh và Hiệp (phò mã) đã cầu xin Bẩy Việt phản cung  để họ ở lại bên ngoài để lo vụ án. Do đó, Bẩy Việt phủ nhận lời khai ban đầu.
Kết luận điều tra và cáo trạng sau đó đều xác định Bảy Việt là kẻ chủ mưu giết người, từ việc đưa hung khí đến lôi kéo đồng bọn đánh nhau và đâm chết Phan Lê Sơn, Phạm Phước Hưng.
Nguồn: https://vnexpress.net/vu-sat-hai-canh-sat-phan-le-son-qua-loi-khai-cua-hung-thu-1961495.html

Tuyên án sơ thẩm

  • Tử hình: Trương Văn Cam, Châu Phát Lai Em, Nguyễn Việt Hưng, Nguyễn Hữu Thịnh, Phạm Văn Minh, Hồ Thanh Tùng.
  • Chung thân: Nguyễn Tuấn Hải, Nguyễn Xuân Trường, Bùi Anh Việt, Văn Công Tiến.
  • 6 năm tù phạm tội nhận hối lộ của gia đình Năm Cam: Phạm Sĩ Chiến.
  • 10 năm tù phạm tội nhận hối lộ của gia đình Năm Cam: Trần Mai Hạnh
  • Nguyên Giám đốc Công an Thành phố Hồ Chí Minh Bùi Quốc Huy bị tuyên phạt 4 năm tù.
  • Nguyên trưởng Phòng Cảnh sát điều tra Nguyễn Mạnh Trung lĩnh án 5 năm tù.
  • Nguyên trưởng Phòng Kiểm sát giam giữ cải tạo VKSND Hà Nội Nguyễn Thập Nhất 5 năm tù.
  • Dương Minh Ngọc lĩnh án 6 năm tù.
  • Phóng viên Hoàng Linh: 12 năm tù.
  • Một số bị cáo bị chịu mức án 20 năm tù: Dương Ngọc Hiệp, Phan Thị Trúc, Trần Văn Thuyết, Tạ Đắc Lung.
  • Nguyễn Khánh Quốc: 27 năm 9 tháng 2 ngày tù.
  • Triệu Tô Hà chịu mức án tổng hợp là 22 năm 6 tháng 28 ngày.

Kiến nghị của Hội đồng Xét xử

Đề nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra tiếp tục điều tra, xử lý các vụ án sau:

Kiến nghị Cơ quan Cảnh sát Điều tra tiếp tục điều tra và xử lý các trường hợp:

  • Tống Viết Hòa có hành vi liên quan đến vụ án giết Dung Hà;
  • Ông Triệu Quốc Kế, Cao Duy Phước, Lê Thanh Đạo liên quan đến việc nhận tiền của Trần Văn Thuyết, Dương Ngọc Hiệp và Trương Văn Cam;
  • Việc Trương Văn Cam được giảm thời hạn tập trung cải tạo năm 1997;
  • Trách nhiệm của bà Nguyễn Thị Khánh Hợi – giám định viên giám định lại tỉ lệ thương tật đối với Trát Minh Dũng;
  • Việc Phạm Văn Minh trốn sang Campuchia, Phan Thị Trúc đưa hối lộ 10.000USD và Nguyễn Thành Thảo đưa hối lộ 10 triệu đồng cho Dương Minh Ngọc…

Ngoài ra, Hội đồng Xét xử còn áp dụng các loại hình phạt bổ sung gồm phạt tiền, bồi thường thiệt hại cho người bị hại, cấm đảm nhiệm những chức vụ có liên quan đến công việc nhà nước trong thời hạn được quy định sau khi mãn hạn tù.

Phiên tòa phúc thẩm

Ngày 15/9/2003, tại Thành phố Hồ Chí Minh, phiên tòa phúc thẩm xét xử vụ án Trương Văn Cẩm và đồng phạm được mở. Chủ tọa phiên tòa là Thẩm phán Bùi Ngọc Hòa –  chính tòa Phúc thẩm Tòa án Nhân dân Tối cao tại Thành phố Hồ Chí Minh. Phiên phúc thẩm được mở để xét xử theo kháng cáo của 69 bị cáo, 6 bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; trong đó có 6 bị cáo bị tuyên án tử hình tại cấp sơ thẩm gồm: Trương Văn Cam, Nguyễn Việt Hưng, Nguyễn Hữu Thịnh, Hồ Thanh Tùng, Phạm Văn Minh và Châu Phát Lai Em. Có 13 bị cáo kêu oan toàn bộ hoặc một phần bản án đã được tòa sơ thẩm tuyên. Tất cả các bị cáo còn lại đều kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Thời gian xét xử vụ án tại phiên phúc thẩm

Thời gian xét xử vụ án từ ngày 15 tháng 9 năm 2003 đến ngày 30 tháng 10 năm 2003, phiên tòa kéo dài 26 ngày không kể thứ bảy, chủ nhật và ngày nghỉ, từ 8 giờ 00 đến 17 giờ 00 hằng ngày.

Tuyên án phúc thẩm

  • Tử hình: Trương Văn Cam (tử hình về tội “Giết người”, tử hình về tội “Đưa hối lộ”, chấp hành hình phạt chung là tử hình), Nguyễn Việt Hưng, Nguyễn Hữu Thịnh, Phạm Văn Minh, Châu Phát Lai Em
  • Chung thân: Nguyễn Xuân Trường, Hồ Thanh Tùng, Bùi Anh Việt, Phan Thị Trúc (vợ Năm Cam), Dương Ngọc Hiệp (con rể Năm Cam), Trần Văn Thuyết và Tạ Đắc Lung nhận mức án 20 năm.

Các bị cáo nguyên cán bộ, công an, nhà báo

  • Nguyễn Mạnh Trung: 5 năm tù về tội “Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ”, được đặc xá ngày 27 tháng 4 năm 2005[9].
  • Nguyễn Thập Nhất: 4 năm tù về tội “Lợi dụng ảnh hưởng đối với người có chức vụ, quyền hạn để trục lợi”.
    Phạm Sĩ Chiến: 6 năm tù về tội “Nhận hối lộ”, được đặc xá ngày 27 tháng 4 năm 2005[9].
  • Trần Mai Hạnh 9 năm tù về tội “Nhận hối lộ”, nhờ có công với “Cách mạng” được đặc xá ngày 2 tháng 9 năm 2005[10].
  • Bùi Quốc Huy: 4 năm tù về tội “Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng”, được đặc xá ngày 31 tháng 1 năm 2005.
  • Dương Minh Ngọc: y án 6 năm tù, trong đó 3 năm tù về tội “Nhận hối lộ”, được đặc xá năm 2005
    Võ Quang Thắng: 7 năm tù.
  • Hoàng Linh: 12 năm tù., được đặc xá ngày 24/10/2007

Chưa hoàn thiện:

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.